Bước vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, trong bối cảnh tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, Hàn Quốc đã nhanh chóng vượt qua và vươn lên trở thành một quốc gia phát triển. Việc kịp thời áp dụng thực hiện nhiều chính sách, biện pháp mang tính sáng tạo, đột phá là nguyên nhân cơ bản giúp cho nền kinh tế của nước này đạt được nhiều thành tựu. Trong vòng 10 năm (2001-2010), quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc liên tục phát triển; các chỉ số phát triển về công nghiệp, nông nghiệp, quan hệ thương mại và đầu tư... đều gia tăng mạnh mẽ. Những thành tựu này giúp Hàn Quốc trở thành nền kinh tế phát triển, là một trong bốn “con rồng châu Á” và gia nhập vào nhóm các nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20). Bài viết tập trung làm rõ những thành tựu và nguyên nhân chủ yếu trong phát triển kinh tế của Hàn Quốc giai đoạn 2001-2010, từ đó đưa ra một số kết luận.
Châu Á và Đông Nam Á là khu vực nhạy cảm và đặc biệt quan trọng đối với Nhật Bản. Do đó, Nhật Bản luôn mong muốn có được quan hệ bình thường với các nước trong khu vực này. Với xu thế mở rộng hợp tác hòa bình cùng có lợi, Nhật Bản cũng có những điều chỉnh chính sách phù hợp với tình hình mới. Giải quyết vấn đề hòa bình cho Campuchia không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng quốc tế mà còn mang lại giá trị tối ưu cho vị thế của Nhật Bản tại khu vực này, nhằm giảm áp lực của Mỹ đang “đè nặng” lên chính nước Nhật. Cùng với chính sách “hướng về châu Á” mà bước đi đầu tiên là tham gia vào tiến trình hòa bình Campuchia, Nhật Bản đã và đang từng bước tạo cho mình một vị trí xứng đáng ở Đông Nam Á nói riêng và trên diễn đàn ngoại giao thế giới nói chung. Tìm hiểu quá trình Nhật Bản tham gia vào giải quyết những vướng mắc tại Campuchia cũng góp phần tìm hiểu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Qua vấn đề này, chúng ta càng có cơ sở hiểu rõ hơn quan hệ Nhật Bản - Đông Dương trong thời kỳ này và tác động của nó đối với sự phát triển lịch sử quan hệ khu vực.
Sáng kiến Phát triển toàn cầu (GDI) do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất vào tháng 9 năm 2021 từ diễn đàn cấp cao của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thu hút sự chú ý của thế giới đến các vấn đề phát triển và tăng cường hợp tác giữa các nước đang phát triển trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng toàn cầu đang diễn ra. Tháng 4 năm 2022, khi phát biểu khai mạc Diễn đàn châu Á Bác Ngao, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đưa ra Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI) nhằm đối phó với các xung đột và thách thức an ninh ngày càng gia tăng trên thế giới. Ngay sau kỳ họp Lưỡng hội của Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp tục đưa ra Sáng kiến Văn minh toàn cầu. Đây là sáng kiến toàn cầu thứ ba mà Trung Quốc chủ động đưa ra trong vòng 3 năm qua. Điều này như một sự khẳng định rõ ràng hơn nữa kỳ vọng của Trung Quốc trong vai trò dẫn dắt và định hình luật chơi hiện nay. Bài viết phân tích bối cảnh ra đời và nội hàm sáng kiến, từ đó đưa ra những đánh giá về mục đích của Trung Quốc trong việc đề xuất Sáng kiến văn minh toàn cầu.
Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Moon Jae-in, Hàn Quốc đã chủ động thực hiện nhất quán chính sách “hướng Nam mới” (The New Southern Policy) nhằm tăng cường hợp tác với các nước ASEAN và Ấn Độ. Với vị thế quốc tế ngày càng cao lại có thành tựu phát triển kinh tế nổi bật, Việt Nam được Hàn Quốc đặc biệt quan tâm trong quá trình triển khai chính sách này. Trên cơ sở đó, quan hệ giữa hai nước đã đạt được nhiều bước tiến toàn diện và đột phá trên các lĩnh vực hợp tác, trong đó có chính trị - ngoại giao. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích những kết quả đạt được, đồng thời xác định những hạn chế và một số vấn đề đặt ra đối với bộ đôi đối tác chiến lược toàn diện trong thế kỷ XXI.
Trong kỷ nguyên kinh tế “bình thường mới” (新常态), Chính phủ Trung Quốc đang hướng tới mô hình tăng trưởng định tính thay cho mô hình tăng trưởng định lượng hiện có. Để phù hợp với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ sản xuất sang phát triển công nghệ cao, Chính phủ Trung Quốc đã triển khai chiến lược “Khởi nghiệp và đổi mới đại chúng” (大众创业,万众创新) thông qua việc đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm tạo ra các động lực tăng trưởng mới mang tính bền vững. Các chính sách mới của Chính phủ Trung Quốc đã khiến văn hóa khởi nghiệp, cơ sở hạ tầng và các nền tảng hỗ trợ cho các công ty khởi nghiệp phát triển nhanh chóng. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng, những thành tựu và hạn chế của hệ sinh thái khởi nghiệp của Trung Quốc trong giai đoạn 2012-2022, trên cơ sở đó bước đầu làm rõ vị thế, đặc thù, năng lực cạnh tranh, triển vọng phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Trung Quốc trong thời gian tới.
Năm 2022, nền kinh tế Nhật Bản đã có những dấu hiệu phục hồi. Tăng trưởng kinh tế đạt 3,8%, vượt mức ước tính ban đầu là 2,2% và tăng 0,9% so với kỳ vọng của thị trường. Xuất khẩu giữ ở mức ổn định nhờ vào những dấu hiệu suy yếu trong mâu thuẫn thương mại Trung – Mỹ. Tuy nhiên, lĩnh vực thương mại quốc tế của Nhật Bản lại trở nên bấp bênh hơn, vào năm 2022, cán cân thương mại của Nhật Bản đã thâm hụt kỷ lục 11.010 tỷ yên (73 tỷ USD). Dự báo tăng trưởng của Nhật Bản trong năm tài chính 2023 (bắt đầu từ tháng 4/2023 và kết thúc vào tháng 3/2024) đã được điều chỉnh tăng, theo đó GDP thực tế tăng 1,5% so với năm 2022 lên khoảng 558,5 nghìn tỷ yên. Các chính sách kích thích kinh tế mới của Nhật Bản chắc chắn sẽ có những tác động đáng kể đến nền kinh tế Nhật Bản trong năm 2023.
Cho đến nay, hầu hết các hình thức xuất khẩu lao động Việt Nam sang Nhật Bản đều tăng trưởng nhanh, có quy mô và chiếm thị phần lớn. Tuy vậy, trong thời gian sống và làm việc tại Nhật Bản, lao động Việt Nam đã bộc lộ khá nhiều vấn đề và điểm yếu, như trình độ chuyên môn và tay nghề thấp, cơ cấu việc làm mất cân đối, vi phạm pháp luật và tập quán xã hội của nước sở tại… Những vấn đề này đã ảnh hưởng khá tiêu cực đến hình ảnh Việt Nam nói chung và lao động Việt Nam nói riêng. Nguyên nhân chủ yếu là do trước khi sang Nhật Bản làm việc, lao động Việt Nam chưa được chuẩn bị tốt về kiến thức chuyên môn và tay nghề, chưa được đào tạo và huấn luyện chu đáo về đạo đức nghề nghiệp, cũng như những hiểu biết đầy đủ về các khía cạnh xã hội, văn hóa và luật pháp Nhật Bản… Để tận dụng tốt thị trường lao động Nhật Bản, bài viết kiến nghị một số giải pháp chủ yếu giúp cải thiện năng lực cứng và mềm cho lao động Việt Nam trước khi đưa họ sang Nhật Bản làm việc và học tập trong tương lai.
Giáo dục có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia. Giáo dục có thể tạo dựng nền tảng văn hóa, nâng tầm tri thức của dân tộc và vạch định hướng đi cho dân tộc. Trong lịch sử của các quốc gia Đông Bắc Á, giáo dục đã sớm hình thành và được coi trọng. Nghiên cứu mô hình, cách thức tổ chức giáo dục, sự phát triển học thuật giữa các quốc gia có thể nhận thấy nhiều điểm tương đồng, dị biệt. Cũng như Hàn Quốc (Cao Ly, Triều Tiên) và Việt Nam (Đại Việt, Đại Nam), Nhật Bản từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, nhưng giáo dục Nhật Bản đã phát triển theo con đường riêng với nhiều nét đặc thù. Chính những đặc thù đó đã góp phần tạo nên điều kiện thiết yếu cho sự thành công của Nhật Bản. Trên cơ sở nghiên cứu khu vực, so sánh giữa Nhật Bản, Hàn Quốc (và ở mức độ nhất định là trường hợp Việt Nam), bài viết muốn làm rõ những đặc tính chung, riêng trong truyền thống giáo dục giữa các quốc gia khu vực và tác động, hệ quả đa chiều dẫn đến sự phát triển khác biệt của các nước về sau.
Trong bối cảnh phát triển mới, Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnh hơn nữa vai trò của quá trình xây dựng chính phủ pháp trị. Xây dựng chính phủ pháp trị là việc tạo nên một bộ máy chính quyền có mọi hành động đều tuân theo quy định của pháp luật, bảo đảm lợi ích cho người dân. Căn cứ vào sự thay đổi của thời đại, Trung Quốc đã đưa ra hai nhiệm vụ mới cần thực hiện để xây dựng chính phủ pháp trị, đó là: xây dựng hệ thống ứng phó với các sự kiện bất ngờ, bảo đảm về khoa học kỹ thuật. Hai nhiệm vụ này đã được Trung Quốc thực hiện bằng những giải pháp rất mới, nâng cao hiệu quả cho quá trình xây dựng chính phủ pháp trị, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.
Mặc dù Nhật Bản không phải là một bên có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông nhưng Biển Đông chứa đựng nhiều lợi ích của Nhật Bản. Nhật Bản là một trong những cường quốc hàng đầu tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, do đó, chính sách của Nhật Bản đối với những điểm nóng của khu vực này có ảnh hưởng không nhỏ tới an ninh Biển Đông. Việc nhận diện chính sách Biển Đông của Nhật Bản cần một cách tiếp cận từ thực tiễn bởi trên các văn bản chính sách không đề cập nhiều và cụ thể tới vấn đề Biển Đông. Bài viết nêu quan điểm và định hướng chính sách của Nhật Bản về vấn Biển Đông giai đoạn 2012-2020 dựa trên các văn bản chính sách và tuyên bố chính thức của các lãnh đạo Nhật Bản; việc triển khai các mối quan hệ song phương và đa phương của Nhật Bản có liên quan đến vấn đề Biển Đông để từ đó nhận diện chính sách Biển Đông của nước này giai đoạn 2012-2020.