Trang chủ

Hợp tác kinh tế - Điểm sáng trong 50 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản

Đăng ngày: 12-02-2025, 12:39 | Danh mục: Bài viết tạp chí

Lưu Ngọc Trịnh1, Trần Thế Tuân2

 

 

Tóm tắt: Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 21/9/1973 song từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước mới thực sự phát triển mạnh mẽ, thực chất và toàn diện. Cho đến nay, Nhật Bản đã trở thành một đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam trên tất cả các khía cạnh ODA, FDI, thương mại, du lịch và hợp tác về lao động. Trên cơ sở làm rõ thực trạng quan hệ kinh tế Việt - Nhật trong 50 năm qua, bài viết chỉ ra một số khó khăn và vấn đề đặt ra, từ đó kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm đưa mối quan hệ này lên một tầm cao mới trong tương lai.

Từ khóa: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, ODA, thương mại, FDI, du lịch và xuất khẩu lao động

 

 

V

iệt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/09/1973, kể từ đó đến nay mối quan hệ[1]thắm[2]tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác chiến lược sâu rộng và toàn diện ngày càng được tăng cường, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước, trong đó, hợp tác kinh tế được coi là một điểm sáng. Với xuất phát điểm gần như là số không, sau 50 năm, Nhật Bản đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam: là nước tài trợ ODA lớn nhất, đối tác tiếp nhận lao động lớn thứ hai, nhà đầu tư và đối tác du lịch lớn thứ ba, và là bạn hàng thương mại lớn thứ tư của Việt Nam.

1. Nhà viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam

Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Nhật Bản đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam tổng cộng 13,5 tỷ yên trong 2 năm 1975-1976, và tiếp đó là 14 tỷ yên năm 1978. Đầu năm 1979 do “vấn đề Campuchia”, Nhật Bản quyết định trì hoãn kế hoạch viện trợ cho Việt Nam. Tuy vậy, trong 10 năm sau đó, do chịu tác động mạnh bởi những chính sách của Mỹ, Trung Quốc và ASEAN, dù thực hiện biện pháp “đóng băng” tài trợ kinh tế, nhưng Nhật Bản vẫn duy trì các cuộc tiếp xúc ngoại giao và tiếp tục viện trợ nhân đạo, y tế, văn hóa và giáo dục ở quy mô nhỏ cho Việt Nam.

Từ nửa cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, hoạt động viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam đã được bình thường hóa trở lại và gần như tăng liên tục hàng năm. Kết quả, cho đến năm 2023, Nhật Bản đã cung cấp cho Việt Nam hơn 2.700 tỷ yên vốn vay ưu đãi (tức bình quân mỗi năm khoảng 90 tỷ yên), gần 100 tỷ yên viện trợ không hoàn lại và xấp xỉ 180 tỷ yên hỗ trợ cho hợp tác kỹ thuật, tổng cộng khoảng 2.980 tỉ yên, chiếm hơn 30% tổng nguồn vốn ODA quốc tế dành cho Việt Nam. Trong suốt thời gian đó, Nhật Bản luôn là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam và Việt Nam cũng luôn thuộc nhóm nhận viện trợ lớn nhất của Nhật Bản, đặc biệt so với các nước trong khu vực Đông Nam Á[3].

Cho đến nay, chính sách ODA của Nhật Bản cho Việt Nam chủ yếu tập trung ưu tiên vào 5 lĩnh vực sau: (i) hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực; (ii) hỗ trợ phát triển ngành giao thông vận tải và điện lực; (iii) hỗ trợ phát triển nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn; (iv) ưu tiên cho giáo dục, sức khỏe và dịch vụ y tế nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và tạo điều kiện cho phát triển trong tương lai; (v) cải thiện môi trường, trong đó nhấn mạnh tới bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và chống biến đổi khí hậu, hướng đến phát triển bền vững.

Mặc dù một số dự án cụ thể cũng như các khâu trong quá trình thực hiện viện trợ còn khá nhiều vấn đề cần xem xét (chậm tiến độ, tham nhũng, thất thoát và kém hiệu quả…), song về cơ bản, có thể khẳng định ODA của Nhật Bản trong thời gian qua có ý nghĩa vô cùng to lớn và thiết thực trong việc góp phần cải thiện đời sống người dân, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phục hồi, xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy vậy, từ năm 2017, do Việt Nam không còn được hưởng ưu đãi cao trong tiếp nhận ODA từ Nhật Bản, nên việc làm thế nào để nâng cao chất lượng quy hoạch, lựa chọn, tiếp nhận, giải ngân, quản lý và sử dụng hiệu quả và trả nợ nguồn vốn này đang là mối quan tâm chung của cả hai bên, mà trách nhiệm trước hết thuộc về phía Việt Nam.

2. Hợp tác thương mại song phương Việt Nam - Nhật Bản

2.1. Động thái và cơ cấu thương mại Việt Nam - Nhật Bản

- Động thái

Cùng với viện trợ, 50 năm qua, dù có thăng trầm, song quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản luôn trong xu thế mở rộng. Ngay từ đầu những năm 1970, Nhật Bản đã là bạn hàng lớn thứ hai của Việt Nam sau Liên Xô với kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam đạt 44,5 triệu USD. Trong các năm từ năm 1975 đến 1978, quan hệ thương mại tiếp tục phát triển với tổng kim ngạch hàng năm tương ứng là 27,5 tỉ yên năm 1975, 159 triệu USD năm 1976, 247 triệu USD năm 1977, và 268 triệu USD năm 1978. Tuy vậy, bước sang năm 1979, do những biến đổi chính trị trong khu vực, quan hệ mậu dịch song phương có sự giảm sút, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giảm xuống còn 50 triệu USD, nhiều hợp đồng đầu tư, buôn bán tạm thời bị trì hoãn.

Nhưng từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, do công cuộc cải cách và mở cửa ở Việt Nam, quan hệ thương mại giữa hai nước đã khởi sắc trở lại và có chiều hướng ngày càng phát triển. Năm 1990, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 0,51 tỉ USD, và các năm tiếp theo thường tăng với tốc độ cao, trung bình hàng năm hơn 46,1% trong giai đoạn 1991-2000, 25,5% trong giai đoạn 2001-2010; và gần 8,5% trong giai đoạn 2011-2020. Kết quả, Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn thứ tư (sau Trung Quốc, Mỹ và Hàn Quốc) trong số hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có quan hệ thương mại với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 42,8 tỉ USD năm 2021, tăng 8,1% so với năm 2020 và 47,6 tỉ USD năm 2022, tăng 11,2% so với năm 2021, chiếm khoảng 8-9% tổng kim ngạch buôn bán hàng năm của Việt Nam (giảm so với 14-16% vào đầu những năm 2000)[4].

- Cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản, luôn ở trạng thái tương đối cân bằng, mức chênh lệch thường chỉ dao động trong khoảng +/-1,0-3,0 tỉ USD/năm. Có thể nói, đây là con số quá nhỏ so với mức thâm hụt khổng lồ 53,86 tỉ USD năm 2021 với Trung Quốc và 31,3 tỉ USD năm 2022 với Hàn Quốc và thặng dư ngày càng lớn tới 62,7 tỉ USD năm 2020 với Mỹ[5].

- Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giữa hai nước mang tính bổ sung rõ nét, không có sự cạnh tranh trực tiếp.

+ Các thống kê cho thấy, trong tổng kim ngạch xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang Nhật Bản nói riêng, tuy hàng hóa thuần Việt vẫn chiếm tỉ lệ cao, song trên thực tế, các mặt hàng do các doanh nghiệp có vốn FDI (có cả những doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Nhật Bản) chiếm một tỉ lệ ngày càng tăng. Các mặt hàng xuất khẩu thuần Việt sang Nhật Bản chủ yếu là các mặt hàng thuộc nhóm ngành khai thác (dầu thô, khoáng sản...), chế biến thô với trình độ công nghệ thấp hoặc trung bình và các mặt hàng nông lâm thủy sản sơ chế hoặc tươi sống. Còn các mặt hàng xuất khẩu từ các doanh nghiệp FDI chủ yếu là các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, như máy ảnh, vi tính, điện thoại và linh kiện, dây điện và cáp điện, đồ gia dụng, dệt may và da giầy, va li, cặp, túi các loại, gỗ và sản phẩm gỗ...

+ Trong khi đó, Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản những mặt hàng phục vụ cho sản xuất công nghiệp gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép các loại, vải các loại, linh kiện ô tô, chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, nguyên phụ liệu dệt, may, da… Không ít những mặt hàng trong số đó được nhập khẩu làm đầu vào cho các doanh nghiệp FDI Nhật Bản tại Việt Nam. Tuy vậy, điều đáng nói là, cho đến nay hàng nhập khẩu từ Nhật Bản còn đơn điệu khiến Việt Nam vẫn chưa tận dụng được nhiều trang thiết bị công nghệ hiện đại từ một nước “công nghệ nguồn” như Nhật Bản.

2.2. Một số bất cập trong quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản

2.2.1. Quan hệ thương mại Việt - Nhật chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của mỗi nước

Mặc dù tổng kim ngạch thương mại hàng năm giữa Việt Nam và Nhật Bản luôn tăng với tốc độ cao, song tỉ trọng vẫn còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của hai nước. Nhật Bản là nền kinh tế có quy mô GDP 4.100 tỷ USD (năm 2022), với 125 triệu dân, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa khoảng gần 950 tỷ USD/năm; và luôn thuộc tốp dẫn đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, Nhật Bản còn là đối tác đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương nhất với Việt Nam, như: Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) năm 2008; Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) năm 2009; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2019; Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) năm 2020; và Nhật Bản đã sớm dành cho Việt Nam Quy chế thuế suất tối huệ quốc (MFN) năm 1999. Ngoài ra, giữa Việt Nam và Nhật Bản còn có nhiều cơ chế hợp tác chính thức để giải quyết các nội dung kinh tế, thương mại gồm: Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác thương mại, công nghiệp và năng lượng giữa Việt Nam và Nhật Bản; Ủy ban Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản; Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản.

Lẽ ra Việt Nam cần tận dụng triệt để những điều kiện và lợi thế to lớn đó nhằm đẩy mạnh giao thương với nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này. Tuy vậy, theo Bộ Công Thương, hàng hóa Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn, khoảng 2,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm của Nhật Bản, khá thấp so với các bạn hàng khác của Nhật Bản, như Trung Quốc (khoảng 21-22%), Hàn Quốc (5,2%), Singapore, Thái Lan… Điều này cho thấy Nhật Bản không quá phụ thuộc vào thị trường Việt Nam, trong khi Việt Nam lại phụ thuộc quá lớn vào thị trường Nhật Bản khi trên dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được tiêu thụ tại Nhật Bản, lớn hơn nhiều so với các nước ASEAN khác[6].

Đồng thời, Nhật Bản vẫn có nhu cầu nhập khẩu lớn, đặc biệt ở 12 nhóm mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu mà Việt Nam đang có thế mạnh nhưng vẫn chưa khai thác được. Cụ thể, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường này mới chỉ đạt 2,9 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 12% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản (khoảng 24 tỷ USD/năm). Với mặt hàng da giày, Việt Nam mới xuất được 823 triệu USD, chiếm 18% so với quy mô 4,5 tỷ USD của thị trường Nhật Bản. Một số nông sản Việt Nam có thế mạnh như chuối mới chỉ xuất được vào Nhật Bản có hơn 6 triệu USD, bằng 0,6% kim ngạch nhập khẩu khoảng gần một tỷ USD của nước này; nhóm mặt hàng rau đông lạnh, Nhật Bản cũng nhập gần một tỷ USD mỗi năm, song Việt Nam chỉ xuất được 16 triệu USD sang thị trường này, chiếm 1,6%; cà phê cũng chỉ chiếm khoảng 14%; hạt điều 52 triệu USD, chiếm 5,2%; các mặt hàng thủy sản dao động từ 11-22%; các mặt hàng gỗ như gỗ sàn, gỗ ván sàn chỉ chiếm dưới 5% nhu cầu thị trường Nhật Bản[7].

2.2.2. Chất lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chưa cao, chưa đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường Nhật Bản

Hàng xuất khẩu Việt Nam không những chất lượng chưa cao mà tiêu chuẩn vẫn còn bất cập so với các tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng cao về môi trường, vệ sinh, y tế, xã hội; đồng thời, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn chưa khai thác hiệu quả các kênh phân phối… của Nhật Bản. Hậu quả là, đã xảy ra khá nhiều vụ vi phạm tiêu chuẩn nhập khẩu Nhật Bản. Theo Bộ Công Thương, chỉ riêng ngành nông thủy sản, 5 năm trở lại đây số vụ lô hàng Việt xuất khẩu sang Nhật Bản bị trả về đã tăng gần gấp đôi, từ 54 vụ năm 2018 lên 90 vụ năm 2022. Thậm chí, gần đây, mặt hàng thủy sản Việt Nam vào Nhật Bản thường bị kiểm soát rất chặt chẽ, gần như 100% các lô hàng đều bị kiểm tra. Không chỉ nông thủy sản, hàng dệt may cũng liên tiếp phải đối mặt thách thức khi không chỉ phải bền đẹp, đa dạng mẫu mã, mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn thân thiện với môi trường. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp Việt còn thiếu thông tin về nhu cầu thị trường, cách tiếp thị, đối thủ cạnh tranh, và còn lúng túng trong việc đáp ứng yêu cầu phải minh bạch trong quản lý nguồn nguyên liệu và xuất xứ sản phẩm… nên thường bị thua thiệt. Điều này không chỉ gây tổn hại uy tín cho từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà còn gây tổn hại đến hàng xuất khẩu của Việt Nam nói chung, khiến người tiêu dùng Nhật có ấn tượng xấu với các sản phẩm khác của Việt Nam[8].

Mặc dù nhu cầu và tiềm năng phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn chưa được khai thác triệt để, song thông qua quan hệ hợp tác buôn bán, vai trò của thị trường Nhật Bản ngày càng được khẳng định trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam. Các hoạt động xuất nhập khẩu đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả hai nước, đặc biệt là với Việt Nam.

3. Hợp tác đầu tư giữa Nhật Bản và Việt Nam

Nhật Bản thực sự tiến hành hoạt động FDI tại Việt Nam từ năm 1992, từ đó đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam luôn là một trong những lĩnh vực hợp tác kinh tế cốt lõi và hiệu quả giữa hai nước.

3.1. Về FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Một năm sau khi Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam được ban hành (29/12/1987), năm 1988 tổng vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam chỉ đạt xấp xỉ 1 triệu USD, một con số rất tượng trưng. Tuy vậy, đến năm 2008, tức 20 năm sau, FDI từ Nhật Bản đã đạt tổng cộng hơn 17 tỷ USD. Đến ngày 20/10/2012, lũy kế các dự án còn hiệu lực đã đạt hơn 28,8 tỷ USD và Nhật Bản trở thành đối tác đứng đầu về giá trị FDI đăng ký tại Việt Nam.

- Kể từ đó, FDI của Nhật Bản vào Việt Nam luôn tăng với tốc độ cao, ổn định, tuy có những bước thăng trầm nhất định tùy theo tình hình. Nhật Bản và cùng với Hàn Quốc và Singapore thay nhau giữ một trong các vị trí thuộc Top 3 nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Cho đến ngày 20/3/2023, Nhật Bản có 5.050 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 69.385,06 triệu USD, chiếm 15,62% tổng FDI nước ngoài tại Việt Nam, tăng 40,3% so với năm 2017 cả về số dự án (3.599 dự án) lẫn vốn đăng ký (49,46 tỷ USD)[9]. Không những thế, tính đến năm 2021, số lượng doanh nghiệp thành viên của JETRO kinh doanh tại Việt Nam đã lên đến trên 2.000, trong khi những năm 1990 chỉ có 100[10].

Đáng chú ý là, ngay trong thời điểm đại dịch Covid-19 diễn ra, Nhật Bản vẫn chứng tỏ vị thế và sự kiên định của một đối tác chiến lược khi bất chấp khó khăn để tiếp tục đầu tư vào Việt Nam với nhiều dự án lớn. Riêng năm 2022, trong 108 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, mặc dù vẫn đứng thứ ba với tổng vốn đăng ký hơn  4,78 tỷ USD, chiếm gần 17,3% tổng vốn FDI tại Việt Nam, song Nhật Bản là đối tác duy nhất có vốn FDI tăng (tới 22,7%) so với cùng kỳ năm 2021, trong khi các đối tác lớn khác đều giảm đầu tư, như Singapore (thứ nhất, giảm tới 39,7%), Hàn Quốc (thứ hai, giảm 1,5%)[11]...

- Xét về lĩnh vực đầu tư, giống như FDI vào Việt Nam nói chung, lĩnh vực đầu tư của Nhật Bản cũng đã dần dần đa dạng hơn, song về cơ bản cơ cấu FDI của Nhật Bản vẫn còn mất cân đối đáng kể giữa các ngành. Nhìn chung, có thể thấy, nếu FDI Nhật Bản đang tập trung gần như tuyệt đối vào các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (tới 70,7% vào năm 2018; 65,9% năm 2020; và 65,3% năm 2021, cao hơn so với tỉ lệ 59,3% của FDI nói chung), thì gần đây, dù vẫn còn nhỏ, song đang bắt đầu chuyển sang chú ý hơn đến các lĩnh vực dịch vụ (như các lĩnh vực bán lẻ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác) và nông lâm ngư nghiệp. Có lẽ, đây sẽ là xu hướng đầu tư chính của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam trong tương lai. Điều đó cho thấy, FDI Nhật Bản ở Việt Nam đang có sự dịch chuyển từ chỗ tập trung xây dựng nhà máy, mở xưởng sản xuất để xuất khẩu sang đầu tư vào khối thương mại, dịch vụ và những doanh nghiệp không thuộc khối doanh nghiệp chế tạo. Điều này cũng đã được ông Shinji Hirai, Trưởng đại diện JETRO TP. Hồ Chí Minh khẳng định, nếu trước đây, có tới 40% các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam nhằm mở nhà máy, xưởng sản xuất, thì gần đây, số doanh nghiệp đầu tư với mục đích trên chỉ còn khoảng 20%[12].

- Về hình thức đầu tư, càng ngày liên doanh không còn là hình thức đầu tư được các doanh nghiệp Nhật Bản ưa chuộng như cách đây 30 năm nữa, thay vào đó là hình thức 100% vốn Nhật Bản. Cụ thể đến đầu năm 2020, hình thức liên doanh chỉ còn chiếm khoảng 30% về vốn (thấp hơn so với mức 38,4% năm 2017), trong khi hình thức 100% vốn Nhật Bản đã chiếm xấp xỉ 60,0% (cao hơn so với 57,5% năm 2017). Đồng thời, với việc Việt Nam là điểm đến ưu tiên sau khi xuất hiện xu thế dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc từ giữa những năm 2010, thì hình thức M&A cũng được nhiều nhà đầu tư Nhật Bản lựa chọn.

- Về địa bàn đầu tư, mặc dù gần đây đầu tư của Nhật Bản đã lan dần ra các địa phương và gần như đã phủ khắp cả nước, nhưng về cơ bản các dự án vẫn chủ yếu tập trung vào những thành phố lớn có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển, nguồn nhân lực có chất lượng, như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng... trong khi các khu vực còn lại như miền Trung, khu vực Tây Nguyên, các tỉnh miền núi phía Bắc thì lại chỉ thu hút được lượng vốn khiêm tốn. Cụ thể, tính đến tháng 12/2022, FDI Nhật Bản đã có mặt tại 57/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam, so với 53/63 tỉnh, thành phố năm 2018 và 49/63 vào năm 2015. Trong đó, Thanh Hóa là địa phương thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất của Nhật Bản với 16 dự án, tổng số vốn là 12,53 tỷ USD (chiếm 20,9% tổng vốn đầu tư), đứng thứ hai là Hà Nội với 1.306 dự án, với tổng vốn đầu tư là 10.414,7 triệu USD (chiếm 17,4% tổng vốn đầu tư). Bình Dương đứng  thứ ba với 318 dự án với tổng số vốn là 5.655 triệu USD (chiếm 9,4% tổng vốn đầu tư). TP. Hồ Chí Minh đứng thứ tư với 1.433 dự án với tổng số vốn là 4.608,7 triệu USD (chiếm 7,7%). 53 tỉnh, thành còn lại, chỉ chiếm 44,6%; đặc biệt, có tới 6 địa phương vẫn chưa thu hút được một dự án nào của Nhật Bản[13]. Việc chênh lệch vốn đầu tư giữa các vùng như vậy sẽ gây nên sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, gia tăng khoảng cách về mức sống, văn hóa giữa các thành phố lớn với nông thôn, miền núi.

- Về quy mô dự án và doanh nghiệp đầu tư, tính đến hết tháng 10 năm 2021, quy mô vốn bình quân một dự án FDI của Nhật Bản tại Việt Nam đạt 13,4 triệu USD/dự án, tuy không lớn song vẫn cao hơn quy mô bình quân chung của FDI cả nước (11,7 triệu USD/dự án). Cho đến nay, nhiều tập đoàn lớn với các dự án khổng lồ của Nhật Bản cũng đã có mặt tại Việt Nam với các sản phẩm có uy tín, có sức cạnh tranh và hàm lượng công nghệ cao, thay thế hàng nhập khẩu và tham gia tích cực vào xuất khẩu, cũng như đã kéo theo nhiều nhà đầu tư vệ tinh, hoạt động hiệu quả như Toyota, Honda, Canon, Panasonic, Yamaha, Suzuki, Mitsubishi, Marubeni, Sojitz, Idemitsu, Mitsui[14]

- Về hiệu quả đầu tư, nhìn chung hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam thời gian qua là tương đối khả quan, nhiều doanh nghiệp đã có những sản phẩm thay thế nhập khẩu, thậm chí tham gia tích cực vào quá trình xuất khẩu. Vốn thực hiện trên tổng vốn đăng ký thường chiếm tỷ lệ cao, chừng 73%, trong khi con số chung khoảng 61,7%[15]; Tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn thấp; doanh thu của các dự án đầu tư theo vốn thực hiện đạt con số cao, tới 2,2 lần, trong khi mức chung là 1,7 lần. Theo kết quả khảo sát của JETRO đối với hơn 1.800 doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài trong năm tài chính 2022, tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam dự báo có lãi trong hoạt động kinh doanh là 59,5%, tăng 5% so với năm 2021. Do đó, khoảng 60% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh trong tương lai, vượt xa mức trung bình của ASEAN là 47%[16]. Còn về dài hạn, trong vòng 5-10 năm tới, Việt Nam cũng được các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá là một trong những địa điểm sản xuất đầy triển vọng ở châu Á.

Nhìn chung, có thể nói, các dự án FDI của Nhật Bản ở Việt Nam trong hơn 30 năm qua đã đem lại nhiều kết quả thiết thực cho cả hai bên: (i) góp phần thúc đẩy quá trình cải tổ cơ cấu kinh tế, giảm nhẹ tình trạng dư thừa tương đối nguồn vốn đầu tư ở Nhật Bản và mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho các doanh nghiệp Nhật Bản; (ii) đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thông qua việc phát triển hệ thống giao thông, hiện đại hóa một số ngành công nghiệp như: năng lượng, dầu khí, ô tô, điện tử, xe máy,…; nâng cao trình độ công nghệ, góp phần tạo việc làm, giải quyết tình trạng dư thừa lao động, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng thu ngân sách…

Tuy vậy, cũng như hoạt động thương mại, so với các nước châu Á khác, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với khả năng và nhu cầu của hai bên. Ngoài ra, đầu tư mới của Nhật Bản vào Việt Nam hiện đang gặp phải sự cạnh tranh từ Trung Quốc và các nước trong khu vực. Chính vì thế, để đẩy mạnh hơn nữa FDI của Nhật Bản vào Việt Nam đòi hỏi cả hai bên cùng phải nỗ lực tháo gỡ những khó khăn, ách tắc còn tồn đọng trong cơ chế, chính sách hợp tác đầu tư, triển khai dự án…

3.2. Về FDI của Việt Nam vào Nhật Bản

Cùng với sự lớn mạnh của kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam, gần đây các doanh nghiệp Việt Nam cũng có xu hướng đầu tư vào thị trường Nhật Bản, mở chi nhánh, lập các công ty con và văn phòng đại diện tại Nhật Bản, mặc dù số lượng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh tại Nhật Bản vẫn chưa nhiều và số vốn đầu tư không đáng kể. Tính đến năm 2022, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 104 dự án ở Nhật Bản với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 19,2 triệu USD, Nhật Bản đứng thứ 36 trong tổng số 79 quốc gia, vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam[17]. Nếu xét cả về số dự án, tổng vốn đầu tư, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp Việt Nam ở Nhật Bản và so với các con số FDI của Nhật Bản vào Việt Nam, có thể khẳng định, thực chất quan hệ hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản trong giai đoạn hiện nay chỉ là “quan hệ một chiều” từ Nhật Bản sang Việt Nam. Đồng thời, nếu so với các con số FDI trị giá hàng tỉ, hàng trăm hay hàng chục triệu USD hàng năm của Singapore, Thái Lan và Indonesia vào Nhật Bản, thì hoạt động FDI Việt Nam tại Nhật Bản thực sự còn quá nhỏ bé. Có thể nói, đây là hạn chế lớn nhất trong hợp tác đầu tư giữa hai nước cho đến nay.

Tuy vậy, đại diện Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản vẫn đánh giá cao xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp Việt vào Nhật Bản và coi đây là một điểm sáng cần coi trọng và khuyến khích[18].

4. Các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác

4.1. Hợp tác về du lịch

Trong nhiều năm qua, Việt Nam và Nhật Bản cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong việc phát triển quan hệ hợp tác về du lịch. Nhật Bản luôn được xác định là một thị trường du khách trọng điểm của Việt Nam. Giai đoạn 2015-2019, du khách Nhật Bản đến Việt Nam tăng 1,4 lần, từ 671.000 lượt (năm 2015) lên 952.000 lượt (năm 2019), mức tăng bình quân đạt 9,1%/năm và cùng với Trung Quốc và Hàn Quốc, Nhật Bản luôn nằm trong top 3 thị trường du khách của Việt Nam. Trong 2 năm (2020-2021), mặc dù do ảnh hưởng đại dịch Covid-19, hoạt động du lịch của hai nước bị chững lại, nhưng đến năm 2023, lượng du khách Nhật Bản đến Việt Nam đã có sự tăng trưởng trở lại và Nhật Bản là một trong 4 thị trường du khách ở khu vực Đông Bắc Á có mức tăng trưởng cao với 204.000 lượt.

Ở chiều ngược lại, Nhật Bản cũng dần trở thành điểm đến được người Việt Nam yêu thích. Trước đại dịch Covid-19, mỗi năm Nhật Bản đón khoảng 500.000 lượt du khách Việt Nam. Năm 2022 có 284.000 du khách Việt Nam thăm Nhật Bản, chiếm 7,4% tổng số du khách quốc tế đến nước này. Dự báo tới đây, Nhật Bản vẫn tiếp tục là điểm đến được du khách Việt Nam quan tâm[19].

Sự phát triển quan hệ hợp tác Nhật - Việt về du lịch không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế thiết thực và cụ thể cho cả hai bên, mà còn làm giàu thêm sự hiểu biết và thắt chặt thêm tình hữu nghị tốt đẹp giữa nhân dân hai nước.

4.2. Hợp tác về xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động cũng là một trong những lĩnh vực hợp tác lớn và hiệu quả giữa hai nước nhiều năm qua. Cho đến khi đại dịch Covid-19 xảy ra, xuất khẩu lao động Việt Nam sang Nhật Bản thường tăng với tốc độ gấp 4-5 lần tốc độ tăng của xuất khẩu lao động Việt Nam nói chung. Nhờ đó, lao động Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động Việt Nam xuất khẩu ra bên ngoài, thường dao động trong khoảng 23,3% (2015) đến 54,3% (2019). Mặc dù do đại dịch Covid-19, lao động xuất khẩu của Việt Nam nói chung và sang Nhật Bản nói riêng giảm mạnh, song Nhật Bản vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam trong các năm 2020 (36,2%) và năm 2022 (47,1%). Kết quả là, tính tới cuối tháng 10/2022, trong 1.822.725 người nước ngoài đang làm việc ở Nhật Bản, số người có quốc tịch Việt Nam đông nhất lên tới 462.384 người, chiếm 25,4%; tiếp đó mới đến Trung Quốc (385.848 người, chiếm 21,2%) và Philippines (206.050 người, chiếm 11,3%), khác hẳn so với trước đây[20].

Có thể nói, hợp tác xuất khẩu lao động giữa Việt Nam và Nhật Bản không chỉ giúp người lao động Việt Nam có thêm thu nhập để cải thiện đời sống và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà còn góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực ngày càng nghiêm trọng đang gây trở ngại cho phát triển kinh tế Nhật Bản.

5. Một số kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản

Trong thời gian tới, để khắc phục những hạn chế trong hợp tác kinh tế, nâng cao chất lượng thu hút và sử dụng FDI và ODA từ Nhật Bản, khai thác tốt tiềm năng và lợi thế của hai nền kinh tế trong buôn bán, phát triển du lịch và xuất khẩu lao động, hai quốc gia, trước hết là Việt Nam, cần cùng nhau thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, hai nước cần tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị và thực chất trong tất cả các lĩnh vực chiến lược như ngoại giao, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học, văn hóa, giao lưu nhân dân… xứng tầm giai đoạn mới, trên tinh thần "tình cảm, chân thành, tin cậy, thực chất, hiệu quả", theo hướng phát triển quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trở thành đối tác chiến lược sâu rộng “không giới hạn”.

Hai là, các cơ quan có thẩm quyền của cả hai bên cần cùng ngồi lại đánh giá khách quan và cầu thị 50 năm hợp tác nói chung, đặc biệt là quan hệ kinh tế thời gian vừa qua (những hiệp định đã ký kết, những cam kết đã đưa ra), chỉ ra những việc đã làm được, những hạn chế cùng nguyên nhân chủ yếu của chúng; đồng thời, vạch ra những mục tiêu và lĩnh vực hợp tác ưu tiên phù hợp với điều kiện, nhu cầu, và tiềm lực của hai bên và bối cảnh mới, và từ đó xác định hướng cũng như lộ trình hợp tác mới, cụ thể và phù hợp, cùng trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi bên.

Ba là, Nhật Bản cần tăng cường hợp tác với Việt Nam trên các diễn đàn khu vực và quốc tế trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, chống khủng bố nhằm thúc đẩy đối thoại và trao đổi thông tin trong các hoạt động gìn giữ hòa bình. Còn Việt Nam cần tiếp tục giữ vững môi trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn định nhằm tạo sự an ninh, an toàn cho các hoạt động giao lưu kinh tế, đầu tư và thương mại với nước ngoài, trong đó có Nhật Bản. Đây là việc làm cần thiết nhằm tránh rơi vào tình trạng khủng hoảng như một số nước, làm mất lòng tin lẫn nhau giữa các nhà đầu tư nước ngoài.

Bốn là, Việt Nam, với sự giúp đỡ từ các nguồn vốn ODA và tư vấn từ các chuyên gia quốc tế và Nhật Bản, cần tiến hành nhanh chóng và triệt để việc xây dựng cơ sở hạ tầng (cứng và mềm, kỹ thuật và xã hội), hoàn thiện môi trường kinh doanh, trong đó hoàn thiện cả về bộ máy quản lý, lẫn về mặt chính sách, pháp luật kinh doanh, các thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, tinh gọn, cụ thể, nhất quán, hiệu quả, thân thiện với doanh nghiệp và có thể dự đoán được nhằm đáp ứng yêu cầu thu hút ODA, FDI, trao đổi mậu dịch và thúc đẩy du lịch hai bên trong giai đoạn mới.

Năm là, với sự hợp tác và hỗ trợ từ phía Nhật Bản, Việt Nam cần coi trọng hơn việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực (cả lao động trực tiếp lẫn lao động quản lý) nhằm đáp ứng và thay thế nhân lực nước ngoài cũng như bảo đảm giá nhân công thấp hơn so với các nước trong khu vực. Ngoài việc chú trọng việc cải thiện trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề, cần đào tạo để nâng cao kỷ luật lao động, các kỹ năng mềm, khả năng hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm để lao động Việt Nam vừa có kỹ năng nghề cao, vừa có tính chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0.

Sáu là, về hoạt động xúc tiến kinh doanh (đầu tư, ODA, mậu dịch, du lịch và xuất khẩu lao động) và nghiên cứu thị trường, một mặt, Việt Nam cần tăng cường hơn nữa các hoạt động xúc tiến kinh doanh với Nhật Bản dưới nhiều hình thức như thành lập các bộ phận hỗ trợ chuyên biệt đối với các doanh nghiệp Nhật Bản, thậm chí đối với một số tỉnh của Nhật Bản nói riêng, xây dựng trang web xúc tiến kinh doanh bằng tiếng Nhật... Chú trọng xúc tiến đầu tư đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và nông nghiệp để thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hỗ trợ tương ứng và nông nghiệp. Khuyến khích đầu tư và ODA vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm xây dựng đội ngũ lao động có chất lượng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao phù hợp với nền kinh tế số và chuyển đổi số. Mặt khác, cần có sự hợp tác chặt chẽ và cụ thể giữa các cơ quan xúc tiến, nghiên cứu thị trường và các doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam nhằm giúp các doanh nghiệp hai bên hiểu rõ và tuân thủ những đặc điểm, điều kiện và tiêu chuẩn thâm nhập thị trường của nhau.

Bảy là, Việt Nam cần sẵn sàng tiếp thu và bảo hộ, Nhật Bản cần thiện chí chuyển giao cho phía Việt Nam những công nghệ và phương pháp sản xuất và quản lý tiên tiến phù hợp, nhằm nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, quản lý, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thế giới cũng như Nhật Bản.

Tóm lại, có thế nói rằng, mặc dù vẫn còn những vấn đề đặt ra, song xét một cách tổng quát, trải qua 50 năm hợp tác kinh tế, Việt Nam và Nhật Bản đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội và quan hệ hữu nghị tốt đẹp của cả hai quốc gia. Trên cơ sở những cơ hội và thuận lợi mới, cùng quyết tâm thực hiện tốt những cam kết và kế hoạch đã đề ra, mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng “không giới hạn” giữa Việt Nam và Nhật Bản, trong đó có quan hệ hợp tác kinh tế, chắc chắn sẽ “vươn tới ngày mai tươi sáng hơn” trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Đầu tư nước ngoài, “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2022”, https://fia.mpi.gov.vn/Detail/CatID/ 457641e2-2605-4632-bbd8-39ee65454a06/ NewsID/8dde962e-b940-4ac3-987e-df6d0346aeb3, 22/12/2022.

2. Cục Đầu tư nước ngoài, “Tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 3 tháng đầu năm 2023”, https://fia.mpi.gov.vn/Detail/ CatID/457641e2-2605-4632-bbd8-39ee65 454a06/NewsID/d702c50b-26db-4f64-9beb-c34327550dfd, 27/03/2023.

3. Hương Dịu, “Mở rộng hợp tác doanh nghiệp, nâng cao kim ngạch thương mại Việt Nam - Nhật Bản”, https://hai quanonline.com.vn/mo-rong-hop-tac-doanh-nghiep-nang-cao-kim-ngach-thuong-mai-viet-nam-nhat-ban-171559.html, 15/02/2023.

4. Thanh Giang, “Điểm đến Việt Nam ngày càng được khách du lịch Nhật Bản ưa chuộng”, https://www.vietnamplus.vn/ diem-den-viet-nam-ngay-cang-duoc-khach-du-lich-nhat-ban-ua-chuong/866820.vnp, 07/06/2023.

5. Nguyễn Hòa, “Môi trường đầu tư Việt Nam nằm trong Top đầu ASEAN”, https://congthuong.vn/moi-truong-dau-tu-viet-nam-nam-trong-top-dau-asean-156920.html, 12/5/2021.

6. Nguyễn Huyền, “Cán cân luôn lệch, doanh nghiệp Việt không hẳn là "thượng đế" với thị trường Trung Quốc”, https://nhipsongkinhdoanh.vn/can-can-luon-lech-doanh-nghiep-viet-khong-han-la-thuong-de-voi-thi-truong-trung-quoc-post3099787.html, 21/08/ 2022.

7. Ngọc Linh, “Việt Nam có 34.527 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 408 tỷ USD”, https://mekongasean. vn/viet-nam-co-34527-du-an-fdi-con-hieu-luc-voi-tong-von-dau-tu-hon-408-ty-usd-post2726.html, 28/12/2021.

8. Linh Ly, Việt Nam – Nhật Bản: Nhiều dư địa cho phát triển quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, https://thitruongtaichinhtiente.vn/viet-nam-nhat-ban-nhieu-du-dia-cho-phat-trien-quan-he-hop-tac-tren-cac-linh-vuc-kinh-te-thuong-mai-va-dau-tu-44638.html.

9. Băng Tâm, “Xuất khẩu vào Nhật Bản và Hàn Quốc: Dư địa còn rất lớn”, https://baochinhphu.vn/xuat-khau-vao-nhat-ban-va-han-quoc-du-dia-con-rat-lon-102230507214413513.htm, 8/5/2023.

10. Hoài Thu, “Doanh nghiệp Nhật ấn tượng với 'sức mạnh mềm' về nhân lực của Việt Nam”, https://vnexpress.net/doanh-nghiep-nhat-an-tuong-voi-suc-manh-mem-ve-nhan-luc-cua-viet-nam-4607918.html, 21/5/2023;

11. Ngọc Trang, “Coi Việt Nam là điểm đến chiến lược, FDI của Nhật Bản tăng trưởng sắc nét”, http://baochinhphu. vn/Kinh-te/Coi-Viet-Nam-la-diem-den-chien-luoc-FDI-cua-Nhat-Ban-tang-truong-sac-net/453631.vgp, 21/11/2021.

12. Thông tấn xã Việt Nam, “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản”, https://www.vietnamplus.vn/infographics-quan-he-thuong-mai-giua-viet-nam-va-nhat-ban/863578.vnp, 20/05/2023.

13. Thông tấn xã Việt Nam, “Người Việt là lực lượng lao động người nước ngoài đông nhất ở Nhật Bản”, https://tuoitre. vn/nguoi-viet-la-luc-luong-lao-dong-nguoi-nuoc-ngoai-dong-nhat-o-nhat-ban-202301 30150415664.htm, 30/01/2023.

14. Nguyễn Văn Tuấn (2022), “Nhìn lại 20 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản (2002-2022)”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 6 (256), trang 13-21.

15. WTO, 2019, Japan – WTO Statistics Database, ngày 18 tháng 2.

 




[1] PGS. TS., Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

[2] TS., Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải

[3] Đức Minh, “Nhật Bản - Việt Nam ký thỏa thuận ODA gần 11.000 tỷ đồng”, https://vnexpress. net/nhat-ban-viet-nam-ky-thoa-thuan-oda-gan-11-000-ty-dong-4625266.html, cập nhật ngày thứ Ba, 04/7/2023; và Linh Ly, “Việt Nam – Nhật Bản: Nhiều dư địa cho phát triển quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư”, https://thitruong taichinhtiente.vn/viet-nam-nhat-ban-nhieu-du-dia-cho-phat-trien-quan-he-hop-tac-tren-cac-linh-vuc-kinh-te-thuong-mai-va-dau-tu-44638.html, cập nhật ngày 10/3/2023.

[4] Thông tấn xã Việt Nam, “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản”, https://www.vietnamplus. vn/infographics-quan-he-thuong-mai-giua-viet-nam-va-nhat-ban/863578.vnp, cập nhật ngày 20/05/2023.

[5] Nguyễn Huyền, “Cán cân luôn lệch, doanh nghiệp Việt không hẳn là "thượng đế" với thị trường Trung Quốc”, https://nhipsongkinhdoanh.vn/can-can-luon-lech-doanh-nghiep-viet-khong-han-la-thuong-de-voi-thi-truong-trung-quoc-post3099787.html, cập nhật ngày 21/08/2022.

[6] WTO (2019), Japan – WTO Statistics Database, ngày 18 tháng 2.

[7] Băng Tâm, “Xuất khẩu vào Nhật Bản và Hàn Quốc: Dư địa còn rất lớn”, https://baochinhphu.vn/xuat-khau-vao-nhat-ban-va-han-quoc-du-dia-con-rat-lon-102230507214413513.htm, cập nhật ngày 8/5/2023.

[8] Băng Tâm, “Xuất khẩu vào Nhật Bản và Hàn Quốc: Dư địa còn rất lớn”, Tlđd.

[9] Cục Đầu tư nước ngoài, “Tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 3 tháng đầu năm 2023”, https://fia.mpi.gov.vn/Detail/CatID/457641e2-2605-4632-bbd8-39ee65454a06/NewsID/d702c50b-26db-4f64-9beb-c34327550dfd, 27/3/2023.

[10] Nguyễn Hòa, “Môi trường đầu tư Việt Nam nằm trong Top đầu ASEAN”, https://congthuong. vn/moi-truong-dau-tu-viet-nam-nam-trong-top-dau-asean-156920.html”, 12/5/2021.

[11] Cục Đầu tư nước ngoài, “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2022”, https://fia.mpi. gov.vn/Detail/CatID/457641e2-2605-4632-bbd8-39ee65454a06/NewsID/8dde962e-b940-4ac3-987e-df6d0346aeb3.

[12] Nguyễn Hòa, “Môi trường đầu tư Việt Nam nằm trong Top đầu ASEAN”, Tlđd.

[13] Cục Đầu tư nước ngoài, “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2022”, Tlđd.

[14] Ngọc Trang, “Coi Việt Nam là điểm đến chiến lược, FDI của Nhật Bản tăng trưởng sắc nét”, http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Coi-Viet-Nam-la-diem-den-chien-luoc-FDI-cua-Nhat-Ban-tang-truong-sac-net/453631.vgp, 21/11/2021.

[15] Ngọc Linh, “Việt Nam có 34.527 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 408 tỷ USD”, https://mekongasean.vn/viet-nam-co-34527-du-an-fdi-con-hieu-luc-voi-tong-von-dau-tu-hon-408-ty-usd-post2726.html, 28/12/2021.

[16] Hương Dịu, “Mở rộng hợp tác doanh nghiệp, nâng cao kim ngạch thương mại Việt Nam - Nhật Bản”, https://haiquanonline.com.vn/mo-rong-hop-tac-doanh-nghiep-nang-cao-kim-ngach-thuong-mai-viet-nam-nhat-ban-171559.html, 15/02/2023.

[17] Linh Ly, “Việt Nam – Nhật Bản: Nhiều dư địa cho phát triển quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư”, Tlđd.

[18] Ngọc Trang, “Coi Việt Nam là điểm đến chiến lược, FDI của Nhật Bản tăng trưởng sắc nét”, Tlđd.

[19] Thanh Giang, “Điểm đến Việt Nam ngày càng được khách du lịch Nhật Bản ưa chuộng”, https://www.vietnamplus.vn/diem-den-viet-nam-ngay-cang-duoc-khach-du-lich-nhat-ban-ua-chuong/ 866820.vnp, 07/06/2023.

[20] Thông tấn xã Việt Nam, “Người Việt là lực lượng lao động người nước ngoài đông nhất ở Nhật Bản”, https://tuoitre.vn/nguoi-viet-la-luc-luong-lao-dong-nguoi-nuoc-ngoai-dong-nhat-o-nhat-ban-20230130150415664.htm, 30/01/2023.

0thảo luận